ĐƠN GIẢN HÓA THỦ TỤC CẤP MÃ SỐ VÙNG TRỒNG, MÃ SỐ CƠ SỞ ĐÓNG GÓI THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 36/2026/NQ-CP NGÀY 31/7/2026
Việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đang có những thay đổi đáng chú ý theo hướng đơn giản, thuận tiện và minh bạch hơn. Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ không chỉ rút gọn thủ tục, thời gian giải quyết mà còn đẩy mạnh thực hiện trên môi trường mạng, qua đó tạo thuận lợi cho người sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp trong quá trình xây dựng vùng nguyên liệu, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Những năm gần đây, mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói ngày càng gắn chặt với quá trình tổ chức sản xuất, truy xuất nguồn gốc và đưa nông sản tới các thị trường xuất khẩu. Tại Thanh Hóa, công tác xây dựng và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói cũng đang được quan tâm triển khai. Trong bối cảnh đó, việc Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 đã tạo ra những thay đổi đáng chú ý trong thủ tục cấp và quản lý mã số. Nghị quyết điều chỉnh, bổ sung một số quy định về nguyên tắc, hồ sơ, trình tự và thẩm quyền tại Nghị định số 38/2026/NĐ-CP, theo hướng giảm thời gian, chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân
Thuận lợi hơn ngay từ khâu đăng ký
Nếu như trước đây, việc chuẩn bị hồ sơ và thực hiện các thủ tục liên quan đến mã số là vấn đề được nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm thì quy định mới đã hướng mạnh tới sự đơn giản và thuận tiện.
Theo Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP, việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng. Người đăng ký tự kê khai, tự chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp. Hồ sơ đề nghị cấp mã số cũng được đơn giản hóa, gồm đơn đề nghị theo mẫu tương ứng ban hành kèm Nghị quyết.
Thay đổi đáng chú ý hơn cả là hồ sơ được gửi đến UBND cấp xã nơi có vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Trong những trường hợp không thể thực hiện trên môi trường mạng theo quy định của Nghị quyết, hồ sơ giấy vẫn có thể được tiếp nhận trực tiếp hoặc qua đường bưu điện.
Cùng với việc đơn giản hóa hồ sơ, thời gian giải quyết cũng được xác định rõ. Với trường hợp không đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số, thời gian giải quyết không quá 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ. Đối với trường hợp đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số, thời gian không quá 10 ngày làm việc, trong đó có việc kiểm tra thông tin kê khai và khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu.
Như vậy, thay vì áp dụng một cách thức chung cho mọi trường hợp, quy định mới có sự phân biệt giữa nhu cầu cấp mã thông thường và cấp mã gắn với thị trường xuất khẩu có yêu cầu riêng. Điều này vừa tạo thuận lợi trong giải quyết thủ tục, vừa bảo đảm các yêu cầu cần thiết đối với nông sản xuất khẩu.
Đơn giản thủ tục nhưng trách nhiệm không giảm
Điểm đáng chú ý của Nghị quyết không chỉ nằm ở việc rút gọn thủ tục. Song song với tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, phương thức quản lý cũng chuyển mạnh theo hướng gắn việc cấp mã với hậu kiểm, kiểm tra, giám sát và truy xuất nguồn gốc. Việc tiền kiểm chỉ thực hiện đối với trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Theo đó, đối với trường hợp không đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số, sau khi mã số được cấp, việc hậu kiểm được thực hiện trong thời hạn tối đa 3 tháng. Tổ chức, cá nhân đăng ký phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đầy đủ, chính xác và trung thực của thông tin đã kê khai.
Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu rõ ràng hơn đối với chủ thể sản xuất. Thủ tục được đơn giản nhưng trách nhiệm đối với thông tin kê khai cũng như việc duy trì các điều kiện liên quan đến mã số vẫn phải được đặt lên hàng đầu.
Điều này càng có ý nghĩa đối với những vùng trồng, cơ sở đóng gói hướng tới xuất khẩu. Tại Thanh Hóa, trên trang thông tin của đơn vị đã ghi nhận việc hình thành các vùng trồng phục vụ xuất khẩu đối với nhiều loại cây như ớt, lúa, khoai lang, bưởi, vải, thanh long, chuối và mít.
Với những vùng sản xuất này, được cấp mã số mới chỉ là bước khởi đầu. Để nông sản duy trì khả năng tiếp cận thị trường, các yêu cầu kỹ thuật vẫn cần được đáp ứng trong suốt quá trình sản xuất và xuất khẩu. Theo Nghị quyết, yêu cầu kỹ thuật cũng như việc phê duyệt, duy trì, tạm dừng hoặc khôi phục mã số phục vụ xuất khẩu tiếp tục thực hiện theo điều ước quốc tế, thỏa thuận, nghị định thư hoặc yêu cầu chính thức của cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu.
Từ cấp mã đến quản lý mã trên nền tảng số
Một điểm tích cực khác là dữ liệu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói sẽ được quản lý tập trung trên Hệ thống xử lý nghiệp vụ, công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và kết nối, chia sẻ với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản cùng các cơ sở dữ liệu khác theo quy định.
Định hướng này có sự tương đồng với quá trình ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý mã số vùng trồng tại Thanh Hóa thời gian qua. Trang Kiểm dịch thực vật Thanh Hóa từng thông tin về việc số hóa tài liệu hướng dẫn, giúp cán bộ chuyên môn, hợp tác xã, doanh nghiệp và người sản xuất thuận lợi hơn trong việc tra cứu các quy định, yêu cầu kỹ thuật và quy trình liên quan đến mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu.
Quy định mới cũng tạo thuận lợi cho các vùng trồng và cơ sở đóng gói đã có mã số. Khi đăng ký bổ sung thị trường xuất khẩu, mã số đã được cấp được giữ nguyên. Trường hợp thay đổi tên tổ chức, cá nhân đại diện mã số hoặc thay đổi do địa giới hành chính, thời hạn xem xét cấp lại là 2 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận đơn.
Đối với những mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã được cấp, phê duyệt và chuyển đổi trước ngày Nghị quyết có hiệu lực, tổ chức, cá nhân vẫn được tiếp tục sử dụng theo định dạng đã cấp.
Mở thêm cơ hội cho các vùng sản xuất tập trung
Không dừng lại ở cải cách thủ tục, Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP còn khuyến khích tổ chức, cá nhân, hợp tác xã và tổ hợp tác tăng cường liên kết sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn để cấp mã số vùng trồng.
Đối với Thanh Hóa, đây là một hướng tiếp cận đáng quan tâm trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp gắn với thị trường. Khi thủ tục hành chính ngày càng thuận tiện hơn, việc xây dựng mã số vùng trồng không nên chỉ dừng ở mục tiêu có thêm mã số, mà cần gắn với tổ chức lại sản xuất, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc và duy trì ổn định các điều kiện của thị trường.
Vì vậy, cùng với việc cập nhật những quy định mới, các tổ chức, cá nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ sở đóng gói trên địa bàn tỉnh cần chủ động chuẩn bị thông tin kê khai đầy đủ, chính xác; quan tâm duy trì các điều kiện của vùng trồng, cơ sở đóng gói và đặc biệt là tuân thủ yêu cầu kỹ thuật đối với từng thị trường xuất khẩu.
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 31/7/2026 đến khi Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 38/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.
Bộ- NQ 36 ngày 31.7.2026 – cắt giảm thủ tục HC MSVT,CSĐG
Bộ- danh mục NQ 36 ngày 31.7.2026 – cắt giảm thủ tục HC MSVT,CSĐG